Quy tắc 2 và 3 nêu trên không chỉ áp dụng riêng cho việc đọc mà còn liên quan đến việc viết vì đọc và viết có mối quan hệ tương hỗ với nhau, cũng như quan hệ giữa dạy và học. Vì thế, cho dù văn phong cách ngôn được những người yêu thích thi ca ngưỡng mộ nhưng lại làm bực mình những nhà triết học nghiêm túc vốn muốn theo dõi và phê bình dòng suy tưởng của tác giả. Khi đọc các sự kiện thời sự, chúng ta cũng gặp phải một vấn đề giống như khi đọc về lịch sử.
Sau khi luyện tập, vẫn công việc như trước nhưng bạn có thể làm tốt hơn nhiều so với lần đầu. Bởi vậy, bạn hoàn toàn có thể đọc kỹ lưỡng từng cuốn sách có liên quan. Bạn không thể nhảy cóc khi đọc các tác phẩm của Kant và Aristotle vì tư duy nối tiếp liên tục.
Chúng giống như ma tuý. Nếu sau khi đọc xong một cuốn sách, bạn cảm thấy có một sự thôi thúc phải đi ra ngoài và làm một việc gì đó, hãy tự hỏi liệu cuốn sách đó chứa đựng thông điệp gì khiến bạn có những cảm xúc như vậy. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy mình tiết kiệm được rất nhiều thời gian, hài lòng khi biết thêm nhiều điều, và thở phào nhẹ nhõm khi phát hiện ra mọi việc dễ dàng hơn bạn nghĩ rất nhiều.
Đôi khi, các minh họa và biểu đồ cũng giúp bạn hiểu được những hiện tượng đang được miêu tả. Sai lầm lớn nhất bạn có thể mắc phải khi áp dụng các quy tắc này là công nhận sự tồn tại của mối liên hệ 1-1 giữa các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố tư duy hoặc kiến thức. Tác giả đã nói rõ ràng ngay từ đầu:
Bạn phải có khả năng đọc ổn định một bài viết, nghĩa là không cần dừng lại để tra nghĩa của nhiều từ, không gặp khó khăn gì về ngữ pháp và cú pháp trong bài viết đó, hiểu nghĩa của phần lớn các câu dù không nhất thiết phải hiểu trọn vẹn những ý nghĩa sâu sắc nhất. Một độc giả sẽ đọc tốt hơn một độc giả khác nếu người đó thực hiện nhiều hoạt động hơn, và cố gắng nhiều hơn. Sử dụng ngữ cảnh là điều rất cần thiết để hiểu được ngôn từ và câu nhằm tìm ra các thuật ngữ và nhận định.
Người ném bóng hay đánh bóng chính là người gửi thông tin theo nghĩa là hành động của họ khiến quả bóng chuyển động. Mỗi cuốn sách là một tác phẩm nghệ thuật nên cũng có tính chỉnh thể, thống nhất. Cuối cùng, chúng càng lúc càng ít tác dụng cho đến khi không còn gì nữa.
Bản chất của việc đọc tích cực: Bốn câu hỏi cơ bản độc giả phải hỏi Do bị yếu tố văn hoá chi phối nên chúng ta có xu hướng ủng hộ nhà khoa học hơn là ủng hộ người nguyên thuỷ. Ví dụ, sự phân tích về loại hình chính quyền trong tác phẩm Politics (Chính trị) của Aristotle là không hoàn chỉnh.
Nhưng có sự khác biệt quan trọng giữa hai hình thức học tập này. Thứ nhất, độc giả phải hiểu cặn kẽ về tác phẩm trước khi đưa ra đánh giá phê bình. Nó cố gắng chứng minh điều gì đó là đúng, là sự thật, chứ không phải mọi việc sẽ tốt hơn nếu đặt trong tình huống ngược lại.
Nhiều tác gia hiện đại đã học tập cách này của Shaw nhưng cũng không thể sánh được với ông về hiệu quả mang lại. Giả sử, bạn có một danh mục gồm hàng trăm tên sách mà thoạt nghe đều viết về tình yêu. Hệ thống hoá triết học: Vào thế kỷ XVII, một kiểu trình bày khác của triết học ra đời nhờ công của hai nhà triết học nổi tiếng là Descartes và Spinoza.
Nếu tác giả hoàn hảo và bạn là độc giả kiểu mẫu thì đề cương của cả hai sẽ giống nhau. Theo định nghĩa, đó là những tác phẩm được viết cho số đông độc giả, không phải cho các nhà chuyên môn. Nên nhớ rằng bản thân từ ngữ không tự viết nên chính nó.