Nhưng nếu cách tư duy sai thì những nguyên tắc được chấp nhận đầu tiên sẽ dẫn đến các kết luận vô căn cứ. Họ lầm tưởng rằng nếu đã hiểu nhau thì không thể có sự bất đồng ý kiến. Triết gia Francis Bacon (1561-1626) từng nhận xét rằng: Một số sách chỉ dùng để nếm.
Trong bất kỳ môn nghệ thuật hay lĩnh vực thực hành nào, các quy tắc thường quá chung chung nên người học khó áp dụng chúng. Người ta cho rằng các câu hỏi hạng nhất là những câu hỏi ít người quan tâm. Tất nhiên, các quy tắc sẽ không mang phép màu đến ngay cho bạn.
Các khám phá có trợ giúp (hướng dẫn) là nghệ thuật đọc và học từ ngôn từ. Điều này sẽ được giải thích trong trường hợp đọc đồng chủ đề. Vì mỗi thuyết của lịch sử mỗi khác và vì thuyết của một sử gia sẽ ảnh hưởng việc ghi chép các sự kiện của anh ta nên chúng ta phải đọc nhiều hơn một ghi chép về lịch sử của một sự kiện hay một thời kỳ nào đó nếu muốn hiểu được nó.
Khi thực hành các bài đọc đầu tiên, chúng ta phải học cách nhận biết các ký hiệu nhất định và ghi nhớ mối quan hệ nhất định giữa các ký tự. Khi đọc đồng chủ đề, độc giả đọc nhiều sách chứ không chỉ một cuốn và tìm mối liên quan giữa các cuốn sách đó cũng như mối liên quan đến chủ đề mà chúng cùng đề cập. Độc giả cũng vậy, khi đã đọc xong tác phẩm, họ sẽ hiểu được mối quan hệ giữa các sự kiện và trình tự hành động của nhân vật.
Bạn không thể tuỳ tiện sắp xếp ý tưởng. Bên cạnh đó, hầu như cuốn sách nào cũng có rất nhiều đoạn không trình bày toàn bộ hay một phần của lập luận. Nhưng bạn phải luôn nhớ rằng tín điều không phải là điều mà tín đồ giả định.
Vì vậy, khi phê bình một tác phẩm hư cấu, bạn phải rất thận trọng để phân biệt được sách nào thoả mãn nhu cầu vô thức của bản thân - cuốn sách khiến bạn nói Tôi thích cuốn sách này mặc dù không biết tại sao - với cuốn sách thoả mãn nhu cầu vô thức của hầu hết mọi người. Những nhà cầm quyền các thời đại sau này khi đọc tác phẩm của Thucydides thấy mình ở trong tình huống gần giống tình huống bị chia cắt đầy bi kịch của các thành phố tự trị Hy Lạp. Cụ thể, cái tinh tuý của một bài thơ hầu như không nằm ở dòng đầu tiên, thậm chí trong cả khổ thơ đầu.
Như vậy, họ đã hành động mà không cần phải suy nghĩ. Thứ hai, độc giả không nên đấu khẩu hay gây sự. Mọi điều liên quan đến chủ đề và có thể nói được đều cần phải nói càng rõ càng tốt.
Vì thế, tác phẩm của Commoner dù chủ yếu là lý thuyết nhưng lại có tầm quan trọng vượt lên trên lý thuyết và đi vào thực tế. Theo quan điểm này, tác giả chỉ chịu sự phán xét của những người cùng địa vị. Ví dụ các câu hỏi mang tính lý thuyết sau: Vấn đề đó có tồn tại không? Nó thuộc loại nào? Tại sao nó tồn tại? Nó có thể tồn tại trong điều kiện nào? Nó phục vụ mục đích gì? Hậu quả do sự tồn tại của nó gây ra? Những thuộc tính đặc trưng của nó là gì? Mối liên hệ giữa nó và những vấn đề khác cùng loại hoặc khác loại như thế nào? Nó sẽ diễn biến ra sao? Hoặc những câu hỏi mang tính thực hành như: Nên tìm kiếm những mục tiêu nào? Lựa chọn phương tiện nào cho một mục đích cụ thể? Phải làm gì và theo trình tự nào để đạt được mục đích nhất định? Trong điều kiện hiện tại, làm thế nào là đúng hoặc tốt hơn nên làm gì? Trong hoàn cảnh nào thì làm việc này tốt hơn làm việc kia?
Trước hết là về vấn đề hệ thống thuật ngữ. (3) Bên cạnh việc tối giản hoá sự thống nhất, bạn còn phải tìm ra phương thức tạo nên chỉnh thể thống nhất đó từ tất cả các thành phần đơn lẻ. Những nhà triết học không đặt câu hỏi giống của nhà khoa học, và họ cũng không sử dụng phương pháp tương tự để trả lời.
Cuốn sách này đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của bổn phận như là nền tảng cho mọi hành động đúng đắn và sự nhấn mạnh đó có thể khiến nhiều độc giả hiện đại khó chịu. Tuy nhiên, chúng ta có thể thu thập kiến thức mà không cần phải có người khác dạy. Có những bài kiểm tra chặt chẽ về giá trị các câu trả lời của các câu hỏi triết học, nhưng chúng chỉ dựa trên kinh nghiệm của một người bình thường chứ không phải của một triết gia.